Một
trong các giải pháp hiệu quả, mà cả Nhà nước và nhân dân cùng có lợi,
là việc điều chỉnh mức thu phí và thủ tục chuyển quyền sở hữu trong việc
mua bán xe đã qua sử dụng cần hợp lý, phù hợp túi tiền người dân, khi
họ đã phải đóng 9-10 loại phí giao thông, để họ không "ngại" đến mức
phải "trốn" làm thủ tục chuyển quyền sở hữu xe.
Vậy,
nếu chỉ vì mỗi cái chuyện là hành vi vi phạm chưa được xử lý của một
người (người bán), mà lại tước quyền sử dụng xe không chính chủ, vốn
chưa có quy định nào của pháp luật cho phép (cấm sử dụng xe không do
mình đứng tên sở hữu), thì có hợp lý không?
Những
ngày gần đây dư luận trên các phương tiện thông tin đại chúng đang rất
nóng, với rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đa phần người dân bức xúc
với tin "xử phạt người đi xe không chính chủ".
"Hiện tượng" hay bản chất là vi phạm?
Tra
Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học - NXB Đã Nẵng và Trung tâm từ
điển học cùng hợp tác xuất bản năm 2005), thì không thấy có các khái
niệm "chính chủ", và "không chính chủ".
Khi
tra cứu trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam thì thấy các cụm từ
"chính chủ" và "không chính chủ" dường như đã được Bộ Giao thông Vận tải
đi tiên phong trong việc sử dụng (nhưng không định nghĩa), tại các
Thông tư 24/2009/TT-BGTVT ngày 15/10/2009, và 20/2010/TT-BGTVT ngày
30/07/2010.
Trong Thông tư số
12/2011/TT/BTNMT ngày 14/04/2011, tại điểm (a) khoản 2 Điều 11, Bộ Tài
nguyên Môi trường cũng sử dụng thuật ngữ "chính chủ".
Nhìn
chung, dư luận đang hiểu việc "sử dụng xe không chính chủ" theo nghĩa
rộng, là việc một cá nhân sử dụng xe máy, ô tô tham gia giao thông đường
bộ, trong khi Giấy đăng ký ô tô, xe máy đó không mang tên mình với tư
cách là chủ sở hữu.
Như vậy, việc một
cá nhân sử dụng, điều khiển xe máy, ô tô do cá nhân hay tổ chức khác
đứng tên sở hữu, trước hết chỉ là một "hiện tượng". Bao gồm hành vi sử
dụng, điều khiển xe thông qua các hình thức giao dịch dân sự như mượn
xe, thuê xe, lái xe với tư cách người lái thuê/ làm công ăn lương cho
chủ xe là cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức.
Đôi
khi là cả giao dịch mua bán xe mà chưa, hoặc không chuyển quyền sở hữu
theo quy định (khi chưa bị phát hiện). Nếu chỉ căn cứ vào hiện tượng "sử
dụng xe không chính chủ" thì chưa thể kết luận là có hành vi vi phạm
pháp luật.
Theo quy định tại các mục 3
(điểm e) và mục 6 (điểm c), thuộc khoản 8, Điều 1 của Nghị định 71, các
hành vi "Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định" của chủ xe
có thể bị xử phạt từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với xe máy.
Hoặc từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với ô tô và các loại
phương tiện tương tự ô tô.
Như vậy, đối
tượng điều chỉnh của các điểm (e) mục 3 và điểm (c) mục 6 của khoản 8
và các mức phạt của hình thức xử lý bằng phạt tiền nói trên, chính là
hành vi "không chuyển quyền sở hữu" của chủ xe đối với các xe đã được
bán lại cho người khác.
Hành vi bị xử
phạt theo Nghị định 71 này thể hiện bản chất "trốn thuế", lệ phí chuyển
quyền sở hữu xe của một trong các hiện tượng "sử dụng xe không chính
chủ", chứ Nghị định 71 không xử phạt theo kiểu "vơ đũa cả nắm" đối với
mọi hành vi "sử dụng xe không chính chủ".
Xét
theo khía cạnh pháp lý, vì ô tô và xe máy là các tài sản đòi hỏi phải
đăng ký quyền sở hữu, nên một khi mọi thủ tục chuyển quyền sở hữu trong
một vụ mua/ bán xe chưa hoàn tất, để tên người mua được ghi trên Giấy
chứng nhận đăng ký xe, thì chủ sở hữu của chiếc xe (chủ xe) phải vẫn còn
là người bán, tức là người còn đang có tên trên Giấy chứng nhận đăng ký
xe.
Một khi mà tên của người mua
chưa được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký xe, thì người này vẫn chỉ là
người "sử dụng (điều khiển) xe không chính chủ mà thôi".
Đa phần người dân bức xúc với tin "xử phạt người đi xe không chính chủ". Ảnh minh họa.
|
Chỉ xử phạt người bán?
Nếu
ta áp đặt cách hiểu "chủ xe" là người đang sử dụng xe không chính chủ,
phải chịu phạt vì lỗi "không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu" theo Nghị
định 71, thì sẽ không hợp lý. Vì quyền sở hữu xe của người này trên thực
tế, tại thời điểm bị "lập biên bàn vi phạm", vẫn còn chưa được pháp
luật công nhận và bảo hộ.
Như vậy, nếu
xét tư cách chủ thể, quy định trong Nghị định 71 có thể được hiểu là đã
thể hiện rõ ý chí không xử phạt người mua (người đang sử dụng xe không
chính chủ), mà chỉ xử phạt người bán (chủ xe) thông qua quy định ghi
ngay ở đầu các mục 3 và 6 của khoản 8: "Phạt tiền từ 800.000 đồng đến
1.200.000 đồng (hoặc từ 6.000.000 đến 10.000.000 đồng), đối với chủ xe ô
tô, xe máy và các loại xe tương tự.
Trong
thực tế, rất khó để buộc chủ xe/ người bán xe đi nộp phạt. Do tại thời
điểm người mua xe bị xử phạt, có thể người bán đang ở địa phương khác,
vùng miền khác, ở nước ngoài, hay thậm chí đã qua đời.
Trong
tất cả các trường hợp, người mua buộc phải chịu xử lý, như: Ký tên vào
biên bản vi phạm (với tư cách người làm chứng?), đi nộp phạt thay cho
"thủ phạm". Sau đó thì người mua hầu như không thể đòi người bán phải
hoàn lại cho mình khoản tiền phạt mà mình đã phải nộp thay cho người
kia.
Đúng ra, nếu căn cứ theo Nghị định
71, thì tên người bán, chủ phương tiện về mặt pháp lý (theo giấy tờ),
phải được ghi trong quyết định xử phạt, nhưng thực tế thì không chắc sẽ
như vậy.
Vấn đề đặt ra là, nếu xét về
mặt cơ sở pháp lý cho việc quy định xử phạt, nguyên tắc ban hành văn bản
quy phạm pháp luật, hay quy định về "đối tượng bị xử phạt - người có
hành vi vi phạm" theo qui định về Xử phạt vi phạm hành chính, thì việc
chấp nhận xử phạt (thu tiền phạt) sai đối tượng đối với người chưa phải
là chủ xe, sẽ thiếu sức thuyết phục.
Làm cho pháp luật kém nghiêm minh, dễ tạo ra nếp nghĩ, nếp làm tùy tiện, thậm chí trái pháp luật.
|
Giả
sử một người đang sử dụng xe không chính chủ do mua lại của người khác
mà chưa kịp làm thủ tục, thì khi bị phát hiện "sử dụng xe không chính
chủ", thì khi đó sẽ có căn cứ nào để xác định thời điểm mua bán xe thực
tế? Cũng là thời điểm bắt đầu tính thời hạn cho việc làm thủ tục chuyển
quyền sở hữu theo quy định?
Nhìn từ góc
độ pháp lý, nếu có ai đó có được một hợp đồng mượn xe hoặc giấy ủy
quyền sử dụng xe dài hạn, thậm chí vô thời hạn (mà pháp luật hiện không
cấm các giao dịch dân sự như vậy), được lập theo các thủ tục và hình
thức hợp pháp, thì làm thế nào chúng ta có thể buộc họ phải nhận có hành
vi "(chủ xe) không chuyển quyền sở hữu"?
Ngoài
những vấn đề nêu trên, xét từ góc độ thực hiện, phương pháp xác định
lỗi (bán xe) mà không chuyển quyền sở hữu" cũng có nhiều vấn đề phát
sinh.
Đó là những vướng mắc gây phiền
hà không nhỏ đối với người dân. Khi mà cơ quan có thẩm quyền lại cứ
"đẩy" trách nhiệm chứng minh mình "vô tội" cho người dân.
Ở
Việt Nam hiện nay không hề thiếu những gia đình đông người, mà chỉ có
duy nhất một chiếc xe rất cũ, qua nhiều lần mua bán trao tay. Hoặc là xe
tự lắp ráp từ linh kiện rời trôi nổi, để làm phương tiện chở thuê kiếm
sống cho cả nhà, túng tiền quá có bán đi thì cũng chỉ được không quá 3
triệu, mà lại bị phạt "từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng, nếu không tìm
cho ra "chính chủ" để sang tên, thì cũng tội cho họ quá.
Xét
về mặt tài chính, thường thì khi phải bán đi những chiếc xe máy hay ô
tô đã qua sử dụng, thì chủ nhân đều phải chịu lỗ, tức là một phần nhất
định trong giá trị ban đầu của chiếc xe đã được "khấu hao tài sản cố
định". Trong khi đó, người bán những "món đồ cũ" này lại phải chịu một
mức phí, mà theo dư luận hiện nay là qúa cao, thì liệu có hợp lý không?
Đã
có lúc nào, có ai trong chúng ta chịu khó tìm hiểu mục đích và bản chất
của các loại khoản phải nộp khi bán (lỗ) xe này là gì; và phương thức
tính toán mức phải nộp này trong giai đoạn hiện tại, khi mà khả năng
đóng góp của dân đang suy giảm rất trầm trọng, đã hợp lý hay chưa?
Vì
vậy, để tránh những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của đại đa số người
dân, mọi quy định, chính sách, về giao thông, hành chính hay tài chính
do các cơ quan có thẩm quyền hữu quan ban hành. Hay đề xuất, mà có liên
quan hay tác động trực tiếp đến việc sử dụng xe máy của người dân, thì
đều cần phải được xem xét rất kỹ từ trước khi ban hành, sao cho hợp lý,
tránh gây ra những cú sốc, hay sự lo lắng không cần thiết cho người dân.
Một
trong các giải pháp hiệu quả, mà cả Nhà nước và nhân dân cùng có lợi,
là việc điều chỉnh mức thu phí và thủ tục chuyển quyền sở hữu trong việc
mua bán xe đã qua sử dụng cần hợp lý, phù hợp túi tiền người dân, khi
họ đã phải đóng 9-10 loại phí giao thông, để họ không "ngại" đến mức
phải "trốn" làm thủ tục chuyển quyền sở hữu xe.
TheoTrí Nhân (Vietnamnet)